Ngọc Phỉ Thúy – Bảo vật thiên nhiên cực quý hiếm

Cái tên Ngọc Phỉ Thúy chắc không quá xa lạ đối với người Việt Nam, nhưng có phải ai cũng hiểu rõ về Ngọc Phỉ Thúy? Kỳ thực ở nước ta không mấy ai biết nó là gì nhưng vẫn nói truyền miệng nhau nghe hằng ngày, đặc biệt là những người kinh doanh Đá quý/Ngọc. 

Theo ông Phạm Lê Hùng (Hùng Ngọc Thiêng) – một chuyên gia đã có nhiều năm kinh nghiệm về ngọc, “Ngọc Phỉ Thúy là cách gọi của người Trung Quốc khi nói về một loại Đá/Ngọc Ngọc Jade (Ngọc phỉ thúy,Ngọc Cẩm Thạch, Ngọc Miến Điện hay Ngọc Bích) đều có đặc điểm chung là màu sắc hiện lên màu xanh biếc – gọi là Thúy hay màu đỏ – gọi là Phỉ. Ở nước ngoài, người ta không gọi là Ngọc Phỉ Thúy, mà đối với loại Ngọc Jade có màu xanh người ta thường gọi là Imperial Jade – ý chỉ đẳng cấp và giá trị của nó.” 

Sự thật về Ngọc Phỉ Thúy ở Việt Nam

Ngọc Phỉ Thúy có tới 20 chủng loại?

Khi được hỏi thêm về ngọc, ông Hùng Ngọc Thiêng chia sẻ đa số người mua ngọc trên thị trường không nắm được ngọc có bao nhiêu chủng loại, cách phân biệt thật giả ra làm sao. Thông tin về ngọc trên mạng tràn lan nhưng đa số là thông tin nhiễu khiến khách hàng nhầm lẫn. Qua chia sẻ của ông Hùng, Ngọc Phỉ Thúy có tới 20 chủng loại, một con số không hề nhỏ, tuy nhiên có thể gói gọn Phí Thúy thành 3 loại phổ biến nhất là Đậu chủng, Băng Chủng, Thủy Tinh Chủng. Trong đó Thủy Tinh Chủng có giá thành đắt đỏ nhất. 

1. Phỉ Thúy Lão Khanh Chủng

Phỉ Thúy Lão Khanh Chủng thường được thị trường gọi là Lão Khanh Thủy Tinh Chủng, lấp lánh trong suốt, nhẵn nhụi không tì vết, nhan sắc thuần khiết, sáng ngời, nồng đậm, lục sắc đều đặn. Khi được chiếu sáng, Phỉ Thúy Lão Khanh Chủng hiện lên tình trạng bán trong suốt, là Phỉ Thúy trung thượng hoặc cực phẩm.

2. Phỉ Thúy Băng Chủng

Phỉ Thúy Băng Chủng đặc thù là bên ngoài hiện ra rất sáng bóng, bán trong suốt tới trong suốt, trong trẻo như băng, làm cho người ta có cảm giác băng thanh Ngọc oánh. Băng Chủng là loại Ngọc thường dùng để chế tác vòng tay hoặc vật trang sức. Phỉ Thúy Băng Chủng vô sắc, giá trị không có phân chia cao thấp rõ ràng, giá cả chủ yếu quyết định bởi sở thích của mọi người. Băng Chủng là Phỉ Thúy trung thượng đẳng hoặc trung cấp.

3. Phỉ Thúy Thủy Chủng 

Phỉ Thúy Thủy Chủng kết cấu to hơn Lão Khanh Thủy Tinh tương đương với Băng Chủng. Nó có đặc điểm: thông thấu như nước nhưng sáng bóng nhu hòa, xem kỹ kết cấu bên trong có thể thấy được chút sóng gợn hoặc ít vết rạn tối màu và vân đá, ngẫu nhiên còn có thể thấy được tạp chất cực nhỏ, sợi bông. Chủng Ngọc là Phỉ Thúy trung thượng đẳng, ngẫu nhiên gặp một cái thượng đẳng.

4. Phỉ Thúy Tử La Lan

Đây là một loại Phỉ Thúy nhan sắc giống hoa màu tím của cây Tử La Lan, giới châu báu lại gọi màu sắc của Tử La Lan là “Xuân”. Trong Phỉ Thúy “xuân” có các cấp bậc cao, trung, thấp, không phải chỉ cần là Tử La Lan, thì nhất định có giá, nhất là thượng phẩm, còn phải kết hợp tính chất, độ trong suốt, công nghệ chế tác trình độ đẳng cấp tiến hành tổng hợp lại thành chỉ tiêu đánh giá chất lượng. Phỉ Thúy có màu tím nhạt, giới lấy sắc tím của Phỉ Thúy phân chia thành màu hồng tím, màu cà tím và lam tím. Hồng tím khá mịn, độ trong suốt tốt hơn, tiếp đến là màu cà tím và sau cùng là lam tím.

5. Phỉ Thúy Bạch Để Thanh

Phỉ Thúy Bạch Để Thanh có đặc điểm: đế trắng, lục sắc trên nền trắng có vẻ thực tiên diễm, xanh trắng rõ ràng. Loại này rất dễ phân biệt: độ trong suốt kém, có cấu trúc sợi và hạt mịn, được quan sát dưới kính hiển vi, mặt ngoài thông thường có kết cấu lỗ, không đồng đều. Vì vậy, chủng loại có chất lượng thường, ít màu sắc xanh trắng rõ ràng, lục sắc diễm lệ mà hình dạng lại tốt, có thể đạt tới phẩm chất cao cấp.

Sự thật về Ngọc Phỉ Thúy ở Việt Nam

6. Phỉ Thúy Hoa Thanh

Phỉ Thúy Hoa Thanh có màu sắc xanh biếc ngân xanh rải rác, bất quy tắc, tính chất có to có nhỏ, bán trong suốt. Màu nền chủ yếu là là xanh nhạt, xám nhạt hay xanh lá cây, kết cấu chủ yếu là sợi và hạt mịn đan xen. Đặc điểm của Phỉ Thúy Hoa Thanh là lục sắc không đều, chỗ dày chỗ lưa thưa, đậm có nhạt có.

Ngoài ra Phỉ Thúy Hoa Thanh còn có trạng thái kết cấu chỉ có hạt, cảm giác không đủ nước, nguyên nhân do kết cấu thô ráp dẫn đến độ trong suốt thường rất kém.

Hoa Thanh Chủng là Phỉ Thúy chất lượng thường hoặc phẩm chất thấp.

7. Phỉ Thúy Hồng Phỉ

Màu sắc đỏ tươi hoặc cam hồng. Hồng Phỉ có đặc điểm là sau khi tinh thể Jadeite sinh ra mới hình thành nên màu sắc, do liên kết quặng sắt tạo thành. Vì vậy Hồng Phỉ tạo thành sẽ có màu đỏ hoặc đỏ thẫm, loại tốt sẽ có màu sắc đẹp, ánh thủy tinh, bán  trong suốt. Có những Hồng Phỉ cao cấp: ánh sáng đẹp, nhẵn nhụi, thường được mọi người yêu thích, mang màu sắc cát tường.

Hồng Phỉ thường là chất lượng thường hoặc trung, kém thương phẩm.

8. Phỉ Thúy Hoàng Tông

Màu sắc từ vàng đến nâu nhạt hoặc nâu xám, độ trong suốt thấp. Màu sắc của Hoàng Tông Phỉ cũng là sau khi tinh thể Jadeite sinh ra mới hình thành, màu đỏ phân bổ bên ngoài do liên kết quặng sắt nhuộm thành.

Trên thị trường, Hoàng Phỉ giá trị thấp hơn Hồng Phỉ, nhưng cao hơn Hoàng Tông Phỉ.

9. Phỉ Thúy Đậu Chủng

Tên gọi tắt là Đậu Chủng, là một loại Phỉ Thúy thực thông thường trong gia tộc.

10. Phỉ Thúy Thùy Dung

Tên gọi tắt Phù Dung Chủng, nhất phẩm loại này thường là màu xanh nhạt, không chưa lẫn màu vàng, màu xanh tương đối trong suốt, thuần khiết, có khi đáy hơi hồng nhạt.

11. Phỉ Thúy Mã Nha

Khá nhỏ, màu đục, mặt ngoài sáng bóng giống đồ sứ.

12. Phỉ Thúy Ngẫu Phấn

Tính chất: nhẵn nhụi giống bột củ sen, màu hồng nhạt, hay đỏ tím (thiển xuân sắc), là nguyên liệu tốt cho hàng mỹ nghệ.

13. Phỉ Thúy Nghiễm Phiến

Dưới ánh sáng màu xanh, Nghiễm Phiến chuyển ám hoặc biến thành màu đen, tính chất tương đối xù xì, thế nước khá khô.

14. Phỉ Thúy Thúy Ti 

Có tính chất, màu sắc tốt. Trên thị trường là loại Ngọc trung cao cấp.

15. Phỉ Thúy Kim Ti

Có đế mỏng, bên trong hiện lên các sợi màu vàng, cam vàng, thể hiện rõ ràng cấu trúc sợi song song với sắp xếp định hướng kết cấu. Các đặc trưng của Kim Ti Chủng cũng giống với Thúy Ti Chủng, ngoại trừ màu sắc bên ngoài.

Bình thường, Phỉ Thúy Kim Ti Chủng giá thấp hơn Phỉ Thúy Thúy Ti Chủng

16. Phỉ Thúy Du Thanh

Gọi tắt là Du Thanh Chủng hoặc Du Tẩm. Độ thông thấu sáng bóng, thoạt nhìn có cảm giác bóng loáng. Du Thanh Chủng lục sắc rõ ràng nhưng không thuần, chứa thành phần màu xám, màu lam, do vậy tương đối nặng nề, không đủ tiêu diễm.

Công dụng: thường được dùng để chế tác vật trang sức, vòng tay, cũng có cái làm thành mặt nhẫn.

Trên thị trường, Du Thanh Tẩm thường là Phỉ Thúy cấp thấp.

17. Ba Sơn Ngọc Phỉ Thúy

Ngọc Ba Sơn nguyên thạch là một loại tinh thể thô to, kết cấu xốp, nước khô, đế kém gạch liệu, nhưng màu sắc tương đối phong phú: tím nhạt, xanh lục nhạt hoăc lam xám. Nó chứa amphibole, natri fenspat và các khoáng chất đặc thù khác của Phỉ Thúy.

Thường là một loại phẩm cấp hơi thấp.

18. Phỉ Thúy Kiền Bạch

Phỉ Thúy Kiền Bạch Chủng có tính thô, độ trong suốt không tốt, màu trắng hoặc màu xám trắng nhạt. Nó là loại vô sắc hoặc sắc nhạt, mắt thường có thể thấy được ranh giới giữa các tinh thể.

Do kết cấu thô ráp, giá trị sử dụng và thưởng thức thấp, Kiền Bạch Chủng là một loại Phỉ Thúy cấp bậc thấp.

19. Mặc Thúy

Khi cho ánh sáng xuyên qua, Mặc Thúy hiện lên trạng thái bán trong suốt, trong hắc sắc lại có ánh xanh biếc. Cắt lát mỏng Mặc Thúy và cho qua ánh sáng, ta sẽ thấy được một màu sắc rất đẹp. Người Miến Điện dùng Bóng dáng tình nhân để hình dung jadeite màu đen, người Trung Quốc thì dùng tên khác là Mặc Thúy.

20. Thiết Long Sinh Phỉ Thúy

Được phát hiện vào năm 90 nên hiện nay trên thị trường, tỉ lệ Thiết Long Sinh tốt rất thưa thớt.

Thị trường Ngọc Phỉ Thúy – Vàng thau lẫn lộn

Ở Việt Nam, nếu bạn là người đã mua ngọc (ở bất kỳ đâu) thì rất dễ có đến > 90% người bán sẽ nói cho bạn rằng đây là Ngọc Phỉ Thúy, tuy nhiên sự thật trong đó đa phần là hàng đã qua sử lý, tức là không phải ngọc tự nhiên 100%. Vậy làm thế nào để biết được một sản phẩm có thực sự là phỉ thuý hay không? Ông Hùng cho rằng việc chơi ngọc rất khó, người chơi muốn có được một sản phẩm thực thụ thì cần có thời gian nghiên cứu rất lâu và đôi khi phải trả giá bằng tiền bạc mới rút ra được các kinh nghiệm xương máu. 

Theo kinh nghiệm nhiều năm trong nghề của ông Hùng, ông cho biết để phân biệt Ngọc Phỉ Thúy thiên nhiên có thể dựa vào những cách sau: 

Thông thường Ngọc Phỉ Thúy được chia thành 3 loại:

– Loại A: Đây là Phỉ Thúy thiên nhiên 100%. Được sử dụng các phương pháp gia công vật lý như khắc, mài, đánh bóng để xử lý. Những chiếc vòng Ngọc Phỉ Thúy tuyệt đối không bị can thiệp bởi hóa chất. Ngọc Phỉ Thúy loại A thường không phản ứng với huỳnh quang. Đồng thời nó không bị thay đổi trọng lượng trong quá trình sử dụng.

– Loại B: Là loại vòng đã được xử lý nhiệt tẩy trắng 

– Loại C: Phỉ Thúy loại C là trang sức đã qua xử lý nhuộm màu. Với loại đá này chúng ta không cần biết nó đã được tẩy trắng hay không. Chỉ cần là ngọc đã bị nhuộm màu thì đều được xếp vào loại C.

Sự thật về Ngọc Phỉ Thúy ở Việt Nam

2. Cách nhận biết vòng Ngọc Phỉ Thúy thiên nhiên

Hãy đặt vòng dưới ánh đèn huỳnh quang và quan sát màu sắc.

Vòng Ngọc Phỉ Thúy loại A thường không có sự thay đổi về màu sắc. Còn ngọc loại B sẽ xuất hiện ánh huỳnh quang màu trắng.

3. Hiện tượng quang trạch của vòng ngọc

Sau khi ngâm qua axit bazơ mạnh kết cấu của ngọc sẽ bị phá vỡ. Trước khi được làm đầy bạn sẽ nhìn thấy bề mặt của nó có các lỗ bị ăn mòn. Điều này khiến ngọc sinh ra sự phản chiếu, quang trạch bị yếu đi. Sau khi những chiếc vòng được bổ sung thêm nhựa cây hoặc nhựa dẻo thì quang trạch của nó sẽ tạo thành 1 hỗn hợp khó phân biệt.           

4. Màu sắc của Ngọc Phỉ Thúy

Ngọc Phỉ Thúy thiên nhiên có màu xanh đặc trưng. Kể cả những chiếc vòng Ngọc Phỉ Thúy đã qua xử lý vẫn có màu nguyên gốc. Tuy nhiên sau khi trải qua quá trình ngâm dung dịch có tính axit thì màu sắc đặc trưng của nó sẽ biến thành màu trắng. Màu xanh lục của ngọc chỉ còn xuất hiện trên bề mặt bên ngoài. Bên cạnh đó tính định hướng của màu sắc ban đầu cũng bị phá hủy. Điều này làm mất tính tự nhiên của ngọc.

5. Kết cấu của Ngọc Phỉ Thúy

Ngọc Phỉ Thúy thiên nhiên sau khi bị bào mòn bởi axit và kiềm mạnh. Các vật chất chuyển hóa qua lại giữa tinh thể khoáng vật sẽ xảy ra hiện tượng bị ăn mòn, bão hòa. Điều này sẽ tạo ra những khe nứt, gãy của vòng ngọc. Khi bạn chiếu ánh sáng vào vòng Ngọc Phỉ Thúy đã qua xử lý. Bạn sẽ thấy chúng xuất hiện rất nhiều vết nứt như mạng nhện.

6. Đặc điểm bề mặt của vòng Ngọc Phỉ Thúy

Sự khác biệt về độ cứng của những chất được thêm vào vòng ngọc khiến cho đường rãnh xuất hiện rõ ràng. Bạn có thể dễ dàng quan sát những vết nứt hình mạng lưới ngang dọc trên bề mặt vòng Ngọc Phỉ Thúy đã qua xử lý. Còn Ngọc Phỉ Thúy tự nhiên sẽ có cấu trúc bền vững.

7. Chỉ số khúc xạ của Ngọc Phỉ Thúy

Ngọc Phỉ Thúy đã qua xử lý thường có mật độ và tỉ suất khúc xạ kém. Nhưng vì cấu tạo khoáng vậy khá phức tạp nên mật độ và chỉ số khúc xạ cũng có thể bị thay đổi.

8. Tính huỳnh quang của vòng Ngọc Phỉ Thúy

Ngọc đã qua xử lý thường không có huỳnh quang tử ngoại. Hoặc nếu có thì huỳnh quang sẽ phân bố từ yếu đến mạnh, đồng đều hoặc tạo thành nhiều đốm. Vòng Ngọc Phỉ Thúy loại B có huỳnh quang sóng ngắn, yếu. Nó có màu sắc vàng xanh hoặc lục lam. Còn đối với sóng dài thường có màu lam nhạt.

9. Kiểm tra phóng đại vòng ngọc

Đây là phương pháp thường thấy trong giám định ngọc đã qua xử lý. Phương pháp này được chia thành 2 phần: Quan sát bên ngoài và bên trong. Đối với bề mặt vòng Ngọc Phỉ Thúy người ta thường dùng phản xạ ánh sáng để quan sát. Đối với bên trong người ra thường quan sát những đường rãnh cục bộ do khe hở nhỏ ở các hạt ngọc bị phá vỡ chưa được lấp đầy. Đồng thời họ cũng quan sát các bọt khí ở bên trong vòng ngọc.

10. Phản ứng nhiệt của vòng ngọc

Vòng Ngọc Phỉ Thúy loại B thường bị khô khi tiếp xúc với nhiệt độ từ 200 – 300 độ C. Bên cạnh đó phản ứng của vòng ngọc khi bị đánh, gõ cũng là một cách nhận diện. Nếu là vòng ngọc đã qua xử lý âm thanh phát ra sẽ đục. Còn vòng Ngọc Phỉ Thúy tự nhiên sẽ có âm thanh trong trẻo.

Fanpage: https://facebook.com/vuaphithuy/
Website: Ngocthieng.com